Thursday, June 9, 2022

Thứ Sáu Tuần X Thường Niên – Năm C –10-6-2022

Thu Sau X TN

1 Vua 19:9a, 11-16

9a Khi ngôn sứ Ê-li-a đến núi Khô-rếp là núi của Thiên Chúa, ông vào một cái hang và nghỉ đêm tại đó.  Có lời Đức Chúa phán với ông: 11 “Hãy ra ngoài và đứng trên núi trước mặt Đức Chúa. Kìa Đức Chúa đang đi qua.” Gió to bão lớn xẻ núi non, đập vỡ đá tảng trước nhan Đức Chúa, nhưng Đức Chúa không ở trong cơn gió bão.  Sau đó là động đất, nhưng Đức Chúa không ở trong trận động đất. 12 Sau động đất là lửa, nhưng Đức Chúa cũng không ở trong lửa.  Sau lửa có tiếng gió hiu hiu. 13 Vừa nghe tiếng đó, ông Ê-li-a lấy áo choàng che mặt, rồi ra ngoài đứng ở cửa hang.  Bấy giờ có tiếng hỏi ông: “Ê-li-a, ngươi làm gì ở đây?” 14 Ông thưa: “Lòng nhiệt thành đối với Đức Chúa, Thiên Chúa các đạo binh, nung nấu con, vì con cái Ít-ra-en đã bỏ giao ước với Ngài, phá huỷ bàn thờ, dùng gươm sát hại các ngôn sứ của Ngài.  Chỉ sót lại một mình con mà họ đang lùng bắt để lấy mạng con.”

15Đức Chúa phán với ông: “Ngươi hãy đi con đường ngươi đã đi trước qua sa mạc cho tới Đa-mát mà về.  Tới nơi, ngươi sẽ xức dầu phong Kha-da-ên làm vua A-ram; 16 còn Giê-hu con của Nim-si, ngươi sẽ xức dầu tấn phong nó làm vua Ít-ra-en. Ê-li-sa con Sa-phát, người A-vên Mơ-khô-la, ngươi sẽ xức dầu tấn phong nó làm ngôn sứ thay cho ngươi.”

(Trích Sách Các Vua I, bản dịch của Nhóm Phiên Dịch Các Giờ Kinh Phụng Vụ từ https://ktcgkpv.org/readings/mass-reading)

Gợi ý cầu nguyện

1.      Bài đọc hôm nay là một kinh nghiệm gặp Chúa của Tiên tri Ê-li-a, nhưng cũng có thể là một bài học rất quý dạy tôi cầu nguyện, lắng nghe tiếng Chúa.  Bởi vậy, bài đọc hôm nay mang nhiều hình ảnh có tính biểu tượng.  Trước hết, Tiên tri Ê-li-a đang chạy trốn vì người ta đang tìm giết.  Ông đã phải trốn vào trong một cái hang nơi rừng vắng.  Hình ảnh cái hang dễ cho tôi hình dung một cảnh tượng cô tịch, vắng vẻ, không bị ai quấy rầy.  Như vậy, ngay hình ảnh đầu tiên này có thể chỉ cho tôi cách thức cầu nguyện.  Trước hết, tôi phải tìm một nơi vắng vẻ, tránh xa mọi ồn ào và bận rộn của cuộc sống, để giữ cho lòng mình thật bình yên.  Như thế tôi mới có thể nghe được và gặp được Chúa.  Tôi có thể để ý đời sống cầu nguyện của tôi bao lâu nay, đâu là những lần tôi đã nhận ra sự hiện diện và nghe được tiếng của Chúa rõ ràng và dễ dàng nhất?  Phải chăng là những lúc tâm hồn tôi thật vắng lặng và bình yên?  Tôi cũng để ý, đâu là những lần tôi cầu nguyện mà chẳng cảm thấy gì, cứ như ngồi với bức tường?  Phải chăng đó là những lúc tôi thật bận rộn, môi trường xung quanh chỗ tôi cầu nguyện cũng rất ồn ào, đặc biệt là trong tâm hồn tôi không có sự bình an?  Tôi đọc lại câu chuyện trên và tìm cho tôi một cách thức và thói quen sao cho từ nay đời sống cầu nguyện của tôi được tốt hơn.

2.      Trong thanh vắng của cái hang, Tiên tri Ê-li-a đã nghe được lời mời gọi đi gặp Chúa.  Thoạt đầu, ông tưởng là có thể gặp Chúa trong bão lớn đến mức xẻ núi non, nhưng Chúa đã không có trong cơn bão lớn ấy.  Sau đó, ông tìm Chúa trong cơn động đất và cũng chẳng gặp Ngài.  Ông lại tìm Chúa trong bão lửa, nhưng Ngài cũng chẳng có ở trong đó.  Cuối cùng, ông tìm Chúa trong cơn gió hiu hiu, và lần này ông đã gặp Ngài.  Đây có lẽ chẳng phải là câu chuyện riêng của Ê-li-a, nhưng còn là câu chuyện của tôi nữa.  Phải chăng tôi thường chỉ nhớ đến Chúa, đi tìm Ngài trong những biến cố lớn của cuộc đời, như: người thân qua đời, gia đình đổ vỡ, con cái bỏ nhà đi hoang, người thân bị tai nạn, bị thất nghiệp…?  Phải chăng những lúc như vậy tôi mới chạy đến nhà thờ, tôi mới năng đi lễ, tôi mới siêng cầu nguyện?  Thế nhưng những lúc như vậy, tôi thường chẳng thấy Chúa đâu cả.  Không phải là Chúa không ở cùng tôi những lúc tôi đau khổ và bấn loạn, nhưng có lẽ do tôi không tập nhận biết sự hiện diện của Chúa và tiếng nói của Ngài những khi bình an; nên khi hoảng loạn, đầu óc rối bời, tôi cũng không thể nhận ra sự hiện diện và nghe được tiếng nói của Ngài.  Tôi có thường tìm kiếm Chúa những lúc bình an, gia đình êm ấm, con cái thành công?  Tôi có cần đến Chúa?  Tôi có coi việc đi lễ và cầu nguyện mỗi ngày là cần thiết?  Tôi nhìn lại đời sống của tôi và giữ tâm hồn tôi thật bình tâm ngay trong giây phút này để nghe được tiếng Chúa và cảm được sự hiện diện của Ngài.  Tôi kết thúc giờ cầu nguyện này bằng bài hát, “Ngài Có Đó,” sáng tác của Ân Đức, với sự trình bày của Linh Linh, qua đường dẫn sau: https://www.youtube.com/watch?v=sEduxGGT4qs

Phạm Đức Hạnh, SJ

Wednesday, June 8, 2022

Thứ Năm Tuần X Thường Niên – Năm C –9-6-2022

Thu Nam X TN

Mát-thêu 5:20-26

20Khi ấy, Đức Giê-su nói với các môn đệ rằng: “Thầy bảo cho anh em biết, nếu anh em không ăn ở công chính hơn các kinh sư và người Pha-ri-sêu, thì sẽ chẳng được vào Nước Trời. 21 Anh em đã nghe Luật dạy người xưa rằng: Chớ giết người; ai giết người, thì đáng bị đưa ra toà. 22 Còn Thầy, Thầy bảo cho anh em biết: Bất cứ ai giận anh em mình, thì đáng bị đưa ra toà.  Ai mắng anh em mình là đồ ngốc, thì đáng bị đưa ra trước Thượng Hội Đồng.  Còn ai chửi anh em mình là quân phản đạo, thì đáng bị lửa hoả ngục thiêu đốt. 23 Vậy, nếu khi anh sắp dâng lễ vật trước bàn thờ, mà sực nhớ có người anh em đang có chuyện bất bình với anh, 24 thì hãy để của lễ lại đó trước bàn thờ, đi làm hoà với người anh em ấy đã, rồi trở lại dâng lễ vật của mình. 25 Anh hãy mau mau dàn xếp với đối phương, khi còn đang trên đường đi với người ấy tới cửa công, kẻo người ấy nộp anh cho quan toà, quan toà lại giao anh cho thuộc hạ, và anh sẽ bị tống ngục. 26 Thầy bảo thật cho anh biết: anh sẽ không ra khỏi đó, trước khi trả hết đồng xu cuối cùng.”

(Trích Phúc âm Mát-thêu, bản dịch của Nhóm Phiên Dịch Các Giờ Kinh Phụng Vụ từ https://ktcgkpv.org/readings/mass-reading)

Gợi ý cầu nguyện

1.      Bài đọc hôm nay mở đầu bằng một câu nói thật mạnh mẽ và dứt khoát của Chúa Giêsu, Ngài nói: “Thầy bảo cho các con biết, nếu các con không ăn ở công chính hơn các kinh sư và người Pha-ri-sêu, thì sẽ chẳng được vào Nước Trời.”  Tôi cảm thấy thế nào về tiêu chuẩn vào Nước Trời của Chúa Giêsu?  Các kinh sư và Pha-ri-sêu, họ là ai?  Họ là những người đánh giá sự công chính của họ, tiêu chuẩn để được cứu độ của họ đó là giữ đúng luật, từng li từng tí.  Tôi giữ luật có bằng họ không?  Dù tôi có giữ luật được như họ, vẫn không đủ tiêu chuẩn để tôi được vào Nước Trời.  Chúa Giêsu đòi hỏi tôi nhiều hơn nữa!  Bởi theo luật của các kinh sư và Pha-ri-sêu, tôi mới đạt đến chuyện ăn ngay ở lành, đến chuyện công bằng theo kiểu: ăn miếng trả miếng.  Nếu tôi chỉ giữ được luật này thôi, tôi chưa phải là Kitô hữu, cũng chưa phải là môn đệ của Chúa Giêsu và sẽ chẳng được vào Nước Trời.  Bởi những người ngoài Kitô giáo, những người chẳng biết gì về Chúa Giêsu, thậm chí cả những tay đầu trộm đuôi cướp cũng vẫn xử với nhau theo lẽ công bằng, kiểu: mắt đền mắt răng đền răng.  Chúa Giêsu đòi hỏi tôi phải hơn mọi lẽ thường và hơn hẳn mọi triết lý và quy luật sống của mọi người, phải yêu và sống hơn cả những gì luật đòi buộc, hơn cả những gì xã hội mong đợi.  Tôi chia sẻ những suy nghĩ và khó khăn của tôi trong việc thực hiện những đòi hỏi của Chúa Giêsu. 

2.      Chúa Giêsu đòi hỏi nơi tôi một tình thương cao thượng, một sự tha thứ vượt trên lẽ thường của cuộc sống và một lối sống theo luật đầy tự do.  Không phải chỉ khi tôi có hành động cụ thể chống lại luật tôi mới có lỗi, nhưng Chúa Giêsu đòi hỏi tôi phải tránh tội từ trong tư tưởng, tức một tâm hồn đầy tự do và tha thứ bao dung.  Tha thứ là một thứ trói buộc vô hình nơi tâm hồn mỗi người.  Tôi sẽ không bao giờ được tự do thật sự, nếu tôi không biết tha thứ và làm hòa với tha nhân.  Tôi có đang gặp khó khăn trong vấn đề tha thứ?  Tôi nói chuyện với Chúa về khó khăn đó và xin cho được ơn chữa lành, cùng sức mạnh hòa giải.   

Phạm Đức Hạnh, SJ

Tuesday, June 7, 2022

Thứ Tư Tuần X Thường Niên – Năm C –8-6-2022

1 Vua 18:20-39

20Hồi đó, vua A-kháp sai người đi mời toàn thể con cái Ít-ra-en và triệu tập các ngôn sứ trên núi Các-men. 21 Bấy giờ, ông Ê-li-a đến bên dân và nói: “Các người nhảy khập khiễng hai chân cho tới bao giờ?  Nếu Đức Chúa là Thiên Chúa, hãy theo Người; còn nếu là Ba-an thì cứ theo nó!” Nhưng dân chúng không đáp lại lời nào. 22 Ông Ê-li-a lại nói với dân: “Chỉ sót lại mình tôi là ngôn sứ của Đức Chúa, còn ngôn sứ của Ba-an có những bốn trăm năm mươi người. 23 Hãy cho chúng tôi hai con bò mộng; họ hãy chọn lấy một con, chặt ra và đặt trên củi, nhưng đừng châm lửa; tôi cũng làm thịt con bò kia, rồi đặt trên củi, nhưng sẽ không châm lửa. 24 Đoạn các người hãy kêu cầu danh thần của các người; còn tôi, tôi kêu cầu danh Đức Chúa.  Vị thần nào đáp lại bằng lửa thì vị đó chính là Thiên Chúa.  Toàn dân trả lời và nói: “Đề nghị hay đó!” 25 Bấy giờ, ông Ê-li-a nói với các ngôn sứ Ba-an: “Các người chọn lấy một con bò và làm trước đi, vì các người đông hơn.  Rồi hãy kêu cầu danh thần của các người nhưng đừng châm lửa.” 26 Vậy, họ lấy con bò người ta đưa cho họ, làm thịt, rồi kêu cầu danh thần Ba-an từ sáng tới trưa: “Lạy thần Ba-an, xin đáp lời chúng tôi!”  Nhưng không một tiếng nói, không một ai trả lời, và họ nhảy khập khiễng bên cạnh bàn thờ họ đã dựng. 27 Đến trưa, ông Ê-li-a chế nhạo họ rằng: “Kêu lớn tiếng lên, người là một vị thần mà!  Người đang mải suy nghĩ, hay là đi vắng, hoặc trẩy đường xa; có khi người đang ngủ, thì sẽ thức dậy thôi!” 28 Họ càng kêu lớn tiếng hơn, và theo thói tục của họ, họ dùng gươm giáo rạch mình đến chảy máu. 29 Quá trưa rồi mà họ vẫn tiếp tục nói liên miên cho tới giờ dâng lễ; nhưng vẫn không một tiếng nói, không ai trả lời, không người để ý.

30Bấy giờ ông Ê-li-a nói với toàn dân: “Các người hãy lại đây.”  Toàn dân tiến lại gần ông.  Ông dọn lại bàn thờ Đức Chúa đã bị phá huỷ. 31 Ông Ê-li-a lấy mười hai phiến đá, theo số các chi tộc con cháu ông Gia-cóp, người đã được Đức Chúa phán bảo rằng: “Tên ngươi sẽ là Ít-ra-en.” 32 Ông dùng các phiến đá ấy xây lại một bàn thờ kính Đức Chúa.  Ông đào một đường mương chung quanh bàn thờ rộng cỡ hai thúng hạt giống. 33 Ông xếp củi lên, rồi làm thịt con bò mộng và đặt trên đống củi. 34 Ông nói: “Hãy đổ nước đầy bốn lu rồi tưới lên lễ vật và củi.”  Họ làm như vậy.  Ông nói: “Lần thứ hai nữa”, họ làm lần thứ hai.  Ông lại nói: “Lần thứ ba!” và họ làm thêm lần thứ ba. 35 Nước chảy tràn quanh bàn thờ, khiến đường mương cũng đầy nước. 36 Đến giờ dâng lễ, ngôn sứ Ê-li-a tiến ra và nói: “Lạy Đức Chúa, Thiên Chúa của Áp-ra-ham, I-xa-ác, và Ít-ra-en! Ước chi hôm nay người ta biết rằng trong Ít-ra-en Ngài là Thiên Chúa, và con là tôi tớ Ngài.  Cũng vì lời Ngài phán mà con đã làm tất cả các việc này. 37 Xin đáp lời con, lạy Đức Chúa, xin đáp lời con, để dân này nhận biết: Ngài là Đức Chúa, Thiên Chúa thật, và Ngài đã khiến họ thay lòng đổi dạ.” 38 Bấy giờ lửa của Đức Chúa ập xuống, thiêu rụi của lễ, củi, đá và bụi, cả nước trong mương cũng hút cạn luôn. 39 Toàn dân thấy vậy, liền phủ phục sát đất và nói: “Đức Chúa quả là Thiên Chúa!  Đức Chúa quả là Thiên Chúa!”

(Trích Sách Các Vua I, bản dịch của Nhóm Phiên Dịch Các Giờ Kinh Phụng Vụ từ https://ktcgkpv.org/readings/mass-reading)

Gợi ý cầu nguyện

1.      Trong ngôn ngữ và văn hóa nào cũng có rất nhiều thành ngữ đồng nghĩa diễn tả những con người thiếu trung thành, nửa thuộc về bên này, nửa thuộc về bên kia.  Cụ thể, trong tiếng Việt có rất nhiều thành ngữ đồng nghĩa diễn tả những loại người này, chẳng hạn như: trong tương quan bằng hữu có những người “bắt cá hai tay,” hay trong đời sống vợ chồng có những con người thiếu chung thủy, gọi là “đồng sàng dị mộng”, hoặc trong chiến tranh thì có điệp viên “hai mang” hoặc điệp viên “nhị trùng”, trong chính trị thế giới thì có chính phủ “đu dây”.  Một trong những hình ảnh rất phổ biến trong Kinh Thánh để nói về sự bất trung về niềm tin, đó là ngoại tình.  Bài đọc hôm nay, Tiên tri Ê-li-a cũng giới thiệu một thuật ngữ về sự bất trung trong niềm tin, đó là loại người “đi khập khiễng hai chân.”  Ông nói với người Do-thái: “Các người nhảy khập khiễng hai chân cho tới bao giờ?  Nếu Đức Chúa là Thiên Chúa, hãy theo Người; còn nếu là Ba-an thì cứ theo nó!”  Sau này khi Chúa Giêsu đi rao giảng, Ngài cũng cảnh báo lối đức tin bất trung kiểu này, như: Không ai có thể làm tôi hai chủ, vì hoặc sẽ ghét chủ này mà yêu chủ kia, hoặc sẽ gắn bó với chủ này mà khinh dể chủ nọ. Anh em không thể vừa làm tôi Thiên Chúa vừa làm tôi Tiền Của được” (Mt 6:24).  Tôi nghĩ gì và có phản ứng như thế nào về câu nói của Ê-li-a với dân Chúa xưa?  Có khi nào tôi cũng là loại người đi khập khiễng, khi thì thờ Chúa, lúc thì kính bái đủ thứ ngẫu thần khác?  Tương quan của tôi với Chúa bao lâu nay như thế nào?  Có khắng khít, thân mật, đậm sâu như vợ chồng, hay chỉ như một fan hâm mộ thôi?  Đòi hỏi trung thành thờ phượng một mình Thiên Chúa mà thôi, tôi có thấy đòi hỏi này quá đáng không?  Tôi muốn nói gì với Chúa trong lúc này?  Tôi để ý Chúa sẽ nói gì với tôi về thái độ niềm tin của tôi đối với Ngài bao lâu nay?

2.      Điểm thứ hai thật đáng lưu ý trong bài đọc hôm nay đó là thái độ cầu nguyện của Ê-li-a.  Cả bài đọc hôm nay như trình bày cách thức ông cầu nguyện, với tất cả sự xác tín, khiêm nhường và tôn vinh Thiên Chúa.  Có khi nào tôi cầu nguyện mà đầy xác tín ở Chúa, như Ê-li-a?  Cầu nguyện và tin chắc chắn rằng Chúa sẽ nhận lời?  Cầu nguyện tập trung vào Chúa và chỉ để cho danh Chúa được nhận biết, chứ không nhằm được lợi cho bản thân?  Tôi nhớ lại lần nào đó tôi đã cầu nguyện rất thành tâm và đầy tin tưởng?  Tôi cảm thấy như thế nào sau lần cầu nguyện ấy?  Tôi nhớ lại những lần tôi cầu nguyện một cách máy móc, cho xong bổn phận, như một thói quen?  Tôi cảm thấy như thế nào sau mỗi lần cầu nguyện như vậy?  Tôi đọc lại bài đọc trên, để nhận ra cách cầu nguyện của Ê-li-a và muốn học ở ông niềm tin xác tín vào Thiên Chúa.     

Phạm Đức Hạnh, SJ

Monday, June 6, 2022

Thứ Ba Tuần X Thường Niên – Năm C –7-6-2022

Thu Ba X TN

Mát-thêu 5:13-16

13Khi ấy, Đức Giê-su nói với các môn đệ rằng: “Chính anh em là muối cho đời.  Nhưng muối mà nhạt đi, thì lấy gì muối nó cho mặn lại?  Nó đã thành vô dụng, thì chỉ còn việc quăng ra ngoài cho người ta chà đạp thôi. 14 Chính anh em là ánh sáng cho trần gian.  Một thành xây trên núi không tài nào che giấu được. 15 Cũng chẳng có ai thắp đèn rồi lại để dưới cái thùng, nhưng đặt trên đế, và đèn soi chiếu cho mọi người trong nhà. 16 Cũng vậy, ánh sáng của anh em phải chiếu giãi trước mặt thiên hạ, để họ thấy những công việc tốt đẹp anh em làm, mà tôn vinh Cha của anh em, Đấng ngự trên trời.”

(Trích Phúc âm Mát-thêu, bản dịch của Nhóm Phiên Dịch Các Giờ Kinh Phụng Vụ từ https://ktcgkpv.org/readings/mass-reading)

Gợi ý cầu nguyện

1.      Tuần này Giáo hội đã trở lại Mùa Thường Niên, mùa dành để kính các thánh và thăng tiến đời sống đức tin của tôi, sau một thời gian dài của Mùa Chay và Mùa Phục Sinh, dành để kính Chúa.  Đối với Kitô giáo, là giáo dân hay tu sĩ không phải là để trốn đời, không phải là để đi tìm một sự dễ dãi cho bản thân, mà là làm ngôn sứ, biến đổi cuộc đời này, sao cho càng ngày càng đẹp hơn.  Bài đọc hôm nay, Chúa Giêsu mời gọi tôi trở nên những gì thiết thực nhất trong cuộc sống, có tác dụng biến đổi tận căn cuộc đời này, như: muối và ánh sáng.  Muối là một chất liệu rất cần thiết làm cho thức ăn mỗi ngày được đậm đà và giúp cho các gia vị khác cũng được ngon thêm nữa; hơn nữa nó còn giúp cho các thức ăn khỏi bị ươn thối.  Chưa hết, muối, trong nước mắt và nước biển, còn góp phần chữa lành nhiều bệnh tật thể lý cũng như tâm lý.  Bởi vậy, không ai có thể sống mà không cần muối; nói đúng hơn, không ai có thể sống lành mạnh mà không cần muối.  Một người nào đó nói rất hay về muối như sau: “Hãy luôn có đặc tính như muối.  Chẳng ai cảm thấy sự hiện diện của nó, nhưng thiếu vắng nó thì mọi thứ đều trở nên vô vị -- Always have a unique character like salt.  Its presence is not felt but it’s absence makes all things tasteless.”  Câu nói này phản ảnh đúng những gì Chúa Giêsu muốn tôi phải là muối.  Giây phút này tôi muốn nhìn lại đặc tính muối trong tôi.  Nó có còn mặn đủ?  Cuộc đời này đã có ai và đã có những nơi nào, nhờ sự hiện diện của tôi, đời sống của tôi mà chỗ đó đã không bị ươn thối?  Đã có ai từng là muối giúp cuộc đời tôi không bị ươn thối?  Đâu là những chỗ tôi đang được mời gọi để trở nên muối hôm nay?  Tôi nói chuyện với Chúa Giêsu và xin được sai đi.  Cẩn thận, hãy là muối cho chừng mực, đừng nhiều quá kẻo mặn chát, khiến người ta không những không hết bệnh mà lại còn thêm bệnh!

2.      Ánh sáng cũng là một hình ảnh rất cần thiết trong cuộc sống này.  Nhờ ánh sáng mà tôi không bị vấp té.  Nhờ ánh sáng mà tôi có thể nhận ra muôn vẻ đẹp trong cuộc đời này.  Cũng nhờ ánh sáng mà sự thật được phơi bày.  Tôi cảm thấy hạnh phúc không, khi nhờ ánh sáng, tôi nhận ra biết bao nhiêu vẻ đẹp mà Thiên Chúa dành để cho tôi trong cuộc đời này?  Tôi cảm thấy sợ không, khi mà nhờ ánh sáng, bao nhiêu yếu đuối và sự thật của tôi bị phơi bày?  Tôi nói chuyện với Chúa Giêsu về niềm vui và sợ hãi trước lời mời gọi của Ngài.  Tôi để ý xem Ngài sẽ mời gọi tôi là ánh sáng như thế nào và ở đâu trong ngày sống của tôi.  Cẩn thận, hãy là ánh sáng vừa phải, đừng quá gần hoặc quá mạnh, kẻo người khác bị mù hoặc bị đốt cháy!

Phạm Đức Hạnh, SJ

Sunday, June 5, 2022

Thứ Hai Tuần X Thường Niên – Năm C –6-6-2022 – Lễ Kính Đức Trinh Nữ Maria, Mẹ Giáo Hội

Thu Hai X TN

Gioan 19:25-27

25Khi ấy, đứng gần thập giá Đức Giê-su, có thân mẫu Người, chị của thân mẫu, bà Ma-ri-a vợ ông Cơ-lô-pát, cùng với bà Ma-ri-a Mác-đa-la. 26 Khi thấy thân mẫu và môn đệ mình thương mến đứng bên cạnh, Đức Giê-su nói với thân mẫu rằng: “Thưa Bà, đây là con của Bà.” 27 Rồi Người nói với môn đệ: “Đây là mẹ của anh.”  Kể từ giờ đó, người môn đệ rước bà về nhà mình.

(Trích Phúc âm Gioan, bản dịch của Nhóm Phiên Dịch Các Giờ Kinh Phụng Vụ từ https://ktcgkpv.org/readings/mass-reading)

Gợi ý cầu nguyện

1.      Có những người không thích Phúc âm Gioan lắm bởi Phúc âm này có những chỗ thật khó hiểu.  Chẳng hạn như bài đọc hôm nay.  Tôi có thể dễ bị khựng lại bởi cách Gioan dùng những đại danh từ rất lạ giữa Chúa Giêsu và mẹ của Ngài, Mẹ Maria.  Những từ ngữ ghe thật xa lạ, lạnh lùng với tình mẹ con.  Trước hết từ trên thập giá, Chúa Giêsu nhìn Đức Mẹ và nói: “Thưa Bà, đây là con của Bà.”  Tại sao Chúa Giêsu lại gọi mẹ của mình là bà?  Ở đây, Gioan hoàn toàn không có ý nói đến tương quan luân lý gia đình bình thường giữa mẹ và con, nhưng đang diễn tả ý nghĩa thần học mang tính rộng lớn hơn.  Nếu Evà năm xưa đã sa ngã vì bất tuân khiến cho cả nhân loại trầm luân thì Đức Mẹ hôm nay là một Evà mới, một người đã luôn vâng phục Thiên Chúa trong mọi sự, từ khi sinh con, Đấng Cứu Thế, cho đến khi đứng dưới chân thập giá với con.  Chúa Giêsu trối con cho Đức Mẹ.  Con ở đây không phải là người môn đệ mà là Giáo hội, một nhân loại mới. 

2.      Sau đó, Chúa Giêsu trối người môn đệ, tức Giáo hội và là nhân loại mới cho Đức Mẹ, “Này là Mẹ con.”  Gioan viết tiếp, kể từ đó môn đệ đem Mẹ về nhà mình.  Bởi những lời trăn trối sau cùng này của Chúa Giêsu mà Giáo hội đã gọi Mẹ Maria là mẹ của Giáo hội, đó cũng là ý lễ hôm nay.  Mẹ Maria là mẹ của Giáo hội và cũng là mẹ của tôi.  Tôi sẽ nói gì và làm gì trong ngày lễ của Mẹ hôm nay?  Người mẹ nào cũng thương và bảo vệ con.  Dù con có lớn đến mấy cũng vẫn là con của mẹ.  Hôm nay tôi muốn ngồi bên Mẹ để được Mẹ dạy bảo và yêu thương.  Nhìn vào lịch sử Giáo hội, bất cứ chỗ nào con cái của Mẹ phải đau khổ và bị bắt bớ, Mẹ đều hiện ra ở đó để đồng hành và bảo vệ con cái của Mẹ.  Có khó khăn và đau khổ nào mà tôi muốn nương nhờ Mẹ, nhờ Mẹ che chở và ủi an?  Tôi cũng muốn đến với Mẹ, nhờ Mẹ dẫn tôi đến con của Mẹ là Chúa Giêsu, giúp tôi hiểu và yêu mến con của Mẹ hơn.  Tôi kết thúc giờ cầu nguyện này bằng lời Kinh Nữ Vương Gia Đình: Lạy Nữ Vương gia đình Mẹ ở đây với chúng con, vui buồn sướng khổ mẹ con cùng nhau chia sẻ.  Xa mẹ chúng con biết cậy trong ai.  Đời chúng con gian nan khổ sở lắm.  Gia đình chúng con long đong tối ngày nhưng có mẹ ở bên chúng con, chúng con thấy quên hết ưu phiền, vui sống qua kiếp lưu đày.  Mong ngày sau sung sướng cùng mẹ muôn đời trên Thiên Đàng. A-men. 

Phạm Đức Hạnh, SJ 

Saturday, June 4, 2022

Chúa Nhật Lễ Chúa Thánh Thần Hiện Xuống – Năm C –5-6-2022

CN HX

Tông Đồ Công Vụ - 2:1-11

1Khi đến ngày lễ Ngũ Tuần, mọi người đang tề tựu ở một nơi, 2 bỗng từ trời phát ra một tiếng động, như tiếng gió mạnh ùa vào đầy cả căn nhà, nơi họ đang tụ họp. 3 Rồi họ thấy xuất hiện những hình lưỡi giống như lưỡi lửa tản ra đậu xuống từng người một. 4 Và ai nấy đều được tràn đầy ơn Thánh Thần, họ bắt đầu nói các thứ tiếng khác, tuỳ theo khả năng Thánh Thần ban cho. 5 Lúc đó, tại Giê-ru-sa-lem, có những người Do-thái sùng đạo, từ các dân thiên hạ trở về. 6 Nghe tiếng ấy, có nhiều người kéo đến.  Họ kinh ngạc vì ai nấy đều nghe các ông nói tiếng bản xứ của mình. 7 Họ sửng sốt, thán phục và nói: “Những người đang nói đó không phải là người Ga-li-lê cả ư? 8 Thế sao mỗi người chúng ta lại nghe họ nói tiếng mẹ đẻ của chúng ta? 9 Chúng ta đây, có người là dân Pác-thi-a, Mê-đi, Ê-lam, Mê-xô-pô-ta-mi-a, Giu-đê, Cáp-pa-đô-ki-a, Pon-tô, và A-xi-a, 10 có người là dân Phy-ghi-a, Pam-phy-li-a, Ai-cập, và những vùng Li-by-a giáp giới Ky-rê-nê; nào là những người từ Rô-ma đến đây; 11 nào là người Do-thái cũng như người đạo theo; nào là người đảo Cơ-rê-ta hay người Ả-rập, vậy mà chúng ta đều nghe họ dùng tiếng nói của chúng ta mà loan báo những kỳ công của Thiên Chúa!”

(Trích Tông Đồ Công Vụ, bản dịch của Nhóm Phiên Dịch Các Giờ Kinh Phụng Vụ từ https://ktcgkpv.org/readings/mass-reading)

Gợi ý cầu nguyện

1.      Bài đọc hôm nay có thể nói là một trang nhật ký đẹp nhất và hay nhất của Giáo hội sơ khai, kể từ biến cố phục sinh của Chúa Giêsu.  Tôi đọc lại thật kỹ bài đọc trên và để ý có bao nhiêu sắc dân tựu về Giê-ru-sa-lem, họ thuộc nền văn hóa và ngôn ngữ nào.  Họ đã hết sức ngạc nhiên, bởi nghe thấy các tông đồ, không thuộc người của họ, vậy mà các tông đồ đã có thể nói được tiếng mẹ đẻ của từng người trong nhóm tạp chủng của họ.  Tất cả đều lấy làm lạ, bởi các tông đồ trong khoảnh khắc đón nhận Thánh Thần, đã có thể nói được tiếng lạ.  Chắc chắn, tiếng lạ ở đây không phải là tiếng xì xà xì xồ mà những nhóm Thánh Linh ngày nay cầu nguyện hay bảo là họ nói được tiếng lạ.  Tiếng lạ mà các tông đồ ngày xưa đã nói được đó chính là tiếng mẹ đẻ, khiến mọi sắc dân đều hiểu.  Trong khi đó các nhóm Thánh Linh ngày nay cho rằng họ đã có thể nói được tiếng lạ; tuy nhiên chẳng ai hiểu, thậm chí, chính đương sự cũng chẳng hiểu điều họ nói.  Các tông đồ đã có thể nói được “tiếng mẹ đẻ” và mọi dân đều hiểu; điều này không có nghĩa là, các tông đồ, trong chốc lát dù chẳng học gì, đã có thể nói được tiếng ngoại quốc như: Anh, tiếng Pháp, tiếng Việt, tiếng Hoa…  Tiếng mẹ đẻ mà các tông đồ nói là tiếng nói chung của mọi sinh vật, người cũng như vật, bất cứ ai từ khi còn trong bụng mẹ đều đã được mẹ thương yêu, bao bọc, che chở.  Mọi người đã học được tiếng yêu thương này, thứ sinh ngữ chung của cả nhân loại.  Chính tiếng yêu thương này, dù không phát thành lời, dù chẳng đồng ngôn ngữ và văn hóa, nhưng ai cũng hiểu bằng những cảm nhận của con tim.  Nhớ rằng, trước khi Chúa Giêsu sống lại, các tông đồ sống trong sợ hãi, nhút nhát, cách ly, trốn tránh và thù hằn.  Nhưng sau khi Chúa Giêsu sống lại, và khi nhận được Thánh Thần, các tông đồ đã bung ra khỏi cửa, không một chút sợ hãi, đầy lạc quan, yêu đời, hy vọng, rao giảng Tin Mừng giải thoát cho mọi người.  Hiểu như vậy, tôi có thể nhìn lại chính tôi và tự hỏi: Lần gần đây nhất tôi nói “tiếng mẹ đẻ” là khi nào?  Với những ai?  Đã bao lâu rồi tôi chưa nói tiếng mẹ đẻ?  Đó có phải đó là lần tôi dám xin lỗi con cái?  Đó có phải là lần tôi đã yêu thương và cho con cái cảm nhận được yêu thương của tôi?  Đó có phải là lần tôi đã giải hòa với chồng/vợ của tôi?  Đó có phải là lần tôi đã giao lưu lại với một ai đó mà tôi đã đoạn tuyệt bao lâu nay?  Nếu tôi đã làm những điều này, quả thật tôi đã nói tiếng mẹ đẻ, tôi đã nói tiếng lạ và Chúa Thánh Thần đã tràn ngập trong tôi.  Tôi muốn xin Chúa Thánh Thần xuống trên tôi để từ nay cho đến cuối đời, tôi chỉ nói tiếng mẹ đẻ cho tất cả mọi người tôi gặp gỡ mỗi này.        

2.      Lễ Chúa Thánh Thần Hiện Xuống đánh dấu cuộc đổi đời của các tông đồ, đánh dấu bước đột phá trong lịch sử Giáo hội.  Bởi thế, Lễ Chúa Thánh Thần Hiện Xuống có thể gọi là ngày sinh nhật của Giáo hội.  Bởi, từ biến cố Chúa Thánh Thần Hiện Xuống, các tông đồ đã mạnh mẽ đi ra khắp tứ phương thiên hạ rao giảng Tin Mừng Phục Sinh, nhờ đó mà Giáo hội đã phát triển rất mạnh cho đến ngày nay.  Tôi muốn cầu nguyện cho Giáo hội và sự phát triển của Giáo hội.  Tôi muốn góp phần trong việc phát triển, xây dựng và bảo vệ Giáo hội bằng cách tập nói “tiếng mẹ đẻ” mỗi ngày và ở mọi nơi tôi hiện diện.

Phạm Đức Hạnh, SJ 

Friday, June 3, 2022

Thứ Bảy Tuần VII Phục Sinh – Năm C –4-6-2022

Thu Bay VII PS

Gioan 21:21-25

21Vậy khi thấy người đó [người môn đệ Đức Giê-su thương mến], ông Phê-rô nói với Đức Giê-su: “Thưa Thầy, còn anh này thì sao?” 22 Đức Giê-su đáp: “Giả như Thầy muốn anh ấy còn ở lại cho tới khi Thầy đến, thì việc gì đến anh?  Phần anh, hãy theo Thầy.” 23 Do đó, mới có tiếng đồn giữa anh em là môn đệ ấy sẽ không chết.  Nhưng Đức Giê-su đã không nói với ông Phê-rô là: “Anh ấy sẽ không chết”, mà chỉ nói: “Giả như Thầy muốn anh ấy còn ở lại cho tới khi Thầy đến, thì việc gì đến anh?” 24 Chính môn đệ này làm chứng về những điều đó và đã viết ra.  Chúng tôi biết rằng lời chứng của người ấy là xác thực. 25 Còn có nhiều điều khác Đức Giê-su đã làm.  Nếu viết lại từng điều một, thì tôi thiết nghĩ: cả thế giới cũng không đủ chỗ chứa các sách viết ra.

(Trích Phúc âm Gioan, bản dịch của Nhóm Phiên Dịch Các Giờ Kinh Phụng Vụ từ https://ktcgkpv.org/readings/mass-reading)

Gợi ý cầu nguyện

1.      Bài đọc hôm qua Chúa Giêsu gọi Phê-rô theo Ngài.  Bài đọc hôm nay, Phê-rô có vẻ lưỡng lự, muốn rủ người khác cùng theo ông.  Cái nhìn và câu hỏi của Phê-rô cho thấy, ông có vẻ buồn, lẻ loi trên con đường theo Chúa trong tương lai.  Chúa Giêsu quả quyết, Ngài có gọi ai là tùy ở Ngài, phần Phê-rô hãy cứ theo Thầy.  Tôi có gặp tâm trạng giống Phê-rô bao giờ chưa?  Tôi có cảm thấy cô đơn, lẻ loi khi Chúa Giêsu?  Tôi cảm thấy thế nào về lời quả quyết của Chúa Giêsu?  Câu nói của Chúa Giêsu cho tôi thấy, hành trình theo Chúa là con đường của mỗi người, không thể dựa hơi ai, nhưng phải là những khám phá, quyết tâm dấn thân của từng người.  Tôi sẵn sàng theo Chúa đến mức nào?  Tôi muốn nói chuyện với Chúa Giêsu về sự sẵn sàng hoặc không sẵn sàng của tôi.

2.      Phần cuối của bài đọc hôm nay nhắc về người môn đệ Chúa yêu đã làm chứng cho cuộc đối thoại giữa Chúa Giêsu Phục Sinh và Phê-rô, và rồi quả quyết: Còn có nhiều điều khác Đức Giê-su đã làm.  Nếu viết lại từng điều một, thì tôi thiết nghĩ: cả thế giới cũng không đủ chỗ chứa các sách viết ra.”  Điều này cho thấy những gì được viết lại về Chúa Giêsu Phục Sinh là có thật.  Những kinh nghiệm ấy nhiều đến mức nếu viết hết ra, cả thế giới này không đủ chỗ để chứa hết các sách đã được viết ra.  Chẳng phải chỉ có các môn đệ xưa kia mới kinh nghiệm về Chúa Giêsu Phục Sinh mà cả tôi nữa trong ngày hôm nay.  Tôi muốn đi vào những cảm nghiệm thật sự với Chúa Giêsu Phục Sinh trong lúc này.

 Phạm Đức Hạnh, SJ

Thursday, June 2, 2022

Thứ Sáu Tuần VII Phục Sinh – Năm C –3-6-2022 – Lễ Thánh Charles Lwanga và các Bạn Tử Đạo

Thu Sau VII PS

Gioan 21:15-19

15Sau khi dùng bữa với các môn đệ tại Biển Hồ Ti-bê-ri-a, Đức Giê-su Phục Sinh hỏi ông Si-môn Phê-rô: “Này anh Si-môn, con ông Gio-an, anh có yêu mến Thầy hơn các anh em này không?”  Ông đáp: “Thưa Thầy có, Thầy biết con thương mến Thầy.”  Đức Giê-su nói với ông: “Hãy chăm sóc chiên con của Thầy.” 16 Người lại hỏi: “Này anh Si-môn, con ông Gio-an, anh có yêu mến Thầy không?”  Ông đáp: “Thưa Thầy có, Thầy biết con thương mến Thầy.”  Người nói: “Hãy chăn dắt chiên của Thầy.” 17 Người hỏi lần thứ ba: “Này anh Si-môn, con ông Gio-an, anh có thương mến Thầy không?”  Ông Phê-rô buồn vì Người hỏi tới lần thứ ba: “Anh có thương mến Thầy không?”  Ông đáp: “Thưa Thầy, Thầy biết rõ mọi sự; Thầy biết con thương mến Thầy.”  Đức Giê-su bảo: “Hãy chăm sóc chiên của Thầy. 18 Thật, Thầy bảo thật cho anh biết: lúc còn trẻ, anh tự mình thắt lưng lấy, và đi đâu tuỳ ý.  Nhưng khi đã về già, anh sẽ phải dang tay ra cho người khác thắt lưng và dẫn anh đến nơi anh chẳng muốn.” 19 Người nói vậy, có ý ám chỉ ông sẽ phải chết cách nào để tôn vinh Thiên Chúa.  Thế rồi, Người bảo ông: “Hãy theo Thầy.”

(Trích Phúc âm Gioan, bản dịch của Nhóm Phiên Dịch Các Giờ Kinh Phụng Vụ từ https://ktcgkpv.org/readings/mass-reading)

Gợi ý cầu nguyện

1.      Nhiều Kitô hữu đã quen biết với bài đọc hôm nay về bữa ăn sáng bên biển hồ giữa Chúa Giêsu và các môn đệ, trong đó có Phê-rô.  Sau khi ăn, Chúa Giêsu hỏi Phê-rô ba lần, ông có yêu mến Ngài hơn những người khác không.  Tôi không nên để sự quen thuộc này làm cho giờ cầu nguyện trở nên nhàm chán; hoặc, đọc câu chuyện này như là câu chuyện của Phê-rô chẳng liên quan gì đến tôi.  Nếu có người nào đó hỏi tôi có yêu mến Chúa không, có lẽ tôi sẽ dễ dàng trả lời: “Có!”, “Dĩ nhiên rồi!”.  Tuy nhiên, trong giờ cầu nguyện này, nếu Chúa Giêsu hỏi trực tiếp tôi câu hỏi này, tôi sẽ trả lời Ngài như thế nào?  Nếu tôi trả lời: “Có”, Ngài sẽ nhờ tôi chăm sóc đàn chiên nào của Ngài?  Có thể đó là cha mẹ già của tôi?  Có thể đó là con cái của tôi?  Có thể người thân của tôi đang đau bệnh?  Có thể đó là chồng/vợ của tôi?  Có thể đó là một đoàn thể, cộng đoàn, hoặc xứ đạo nào đó chăng?  Tôi sẽ nói gì với Chúa Giêsu khi được hỏi?

2.      Chúa Giêsu nói với Phê-rô: Lúc còn trẻ, anh tự mình thắt lưng lấy, và đi đâu tuỳ ý.  Nhưng khi đã về già, anh sẽ phải dang tay ra cho người khác thắt lưng và dẫn anh đến nơi anh chẳng muốn.”  Câu nói này có áp dụng cho tôi?  Có thể khi còn trẻ, tôi có thể tự tung tự tác, muốn làm nhiều điều tôi muốn, nhưng khi về già, khi sức khỏe không cho phép, tôi cần phải khiêm nhường để được người khác giúp đỡ, tôi phải nghe theo hướng dẫn của người khác.  Có những điều gì đã và đang xảy ra mà tôi chẳng muốn tiếp tục công việc, chẳng muốn nghĩ tới, chẳng muốn quan tâm?  Có một khó khăn nào đó đang làm tôi chán nản và chùn bước trước những trách nhiệm mà Chúa đã trao phó cho tôi?  Tôi chia sẻ với Chúa những khó khăn và chán nản ấy, để được mạnh sức.

Phạm Đức Hạnh, SJ

Wednesday, June 1, 2022

Thứ Năm Tuần VII Phục Sinh – Năm C –2-6-2022 – Lễ Thánh Marcellinus và Peter, Tử Đạo

Thu Nam VII PS

Gioan 17:24-26

24“Lạy Cha, con muốn rằng con ở đâu, thì những người Cha đã ban cho con cũng ở đó với con, để họ chiêm ngưỡng vinh quang của con, vinh quang mà Cha đã ban cho con, vì Cha đã yêu thương con trước khi thế gian được tạo thành. 25 Lạy Cha là Đấng công chính, thế gian đã không biết Cha, nhưng con, con đã biết Cha, và những người này đã biết là chính Cha đã sai con. 26 Con đã cho họ biết danh Cha, và sẽ còn cho họ biết nữa, để tình Cha đã yêu thương con, ở trong họ, và con cũng ở trong họ nữa.”

(Trích Phúc âm Gioan, bản dịch của Nhóm Phiên Dịch Các Giờ Kinh Phụng Vụ từ https://ktcgkpv.org/readings/mass-reading)

Gợi ý cầu nguyện

1.      Bài đọc hôm nay tiếp nối những gì Chúa Giêsu đã cầu nguyện trong bài đọc hôm qua.  Tôi có thể cảm thấy lời nguyện hôm nay tuyệt đẹp và thật gần với kinh nghiệm đời thường của tôi.  Khi yêu ai, tôi muốn ở với người đó, muốn được nên một với người đó.  Chúa Giêsu cũng thế.  Ngài yêu thương tôi, Ngài cũng muốn rằng: Ngài ở đâu, tôi cũng được ở đó với Ngài.  Tôi nhẩm đi nghĩ lại lời cầu nguyện Chúa Giêsu đang cầu nguyện cho tôi.  Tôi đọc ra tình thương của Ngài dành cho tôi và ao ước muốn tôi luôn được ở bên Ngài.  Tôi để ý, tôi có đang ở thật gần, thật sâu trong Chúa Giêsu lúc này, hay đang ở thật xa?  Cái gì đang làm tôi xa cách Ngài?  Tôi nói chuyện với Chúa Giêsu về lòng ao ước của tôi. 

2.       Cầu nguyện là một sự khát khao đi vào sự kết hiệp đầy yêu thương và mật thiết với Thiên Chúa.  Nhờ sự kết hiệp mật thiết với Chúa Giêsu mà tôi được biết Chúa Cha và cũng nhờ đó tôi có thể hiệp nhất với mọi người.  Một linh mục Dòng Tên người Ấn độ, Sebastian Painadath SJ, nói về những khao khát kiếm tìm một sự kết hiệp thâm sâu với Thiên Chúa như sau: “Một linh đạo ngưng khắc khoải kiếm tìm sẽ ngừng lại ở câu nệ hình thức.  Thần nhiệm là chiều kích gốc của tôn giáo; một tôn giáo không đổ nền trên kinh nghiệm thần bí thì giống như cây không có rễ.  Một lý do căn bản của khủng hoảng đức tin nơi nhiều Kitô hữu là sự thiếu thốn kỷ luật tâm linh.  Con người không thể nghe được tiếng Chúa nếu không có chiêm niệm trong tĩnh lặng, và tĩnh lặng là hoa trái của tỉnh thức nội tâm -- Spirituality without a relentless quest gets settled in formalism.  Mysticism is the root-dimension of religions; a religion that has no grounding in mystical experience is like a tree without roots.  A basic reason for the crisis in faith in many Christian circles is the lack of spiritual discipline.  One cannot listen to the Word of God without contemplative silence, and silence is the fruit of interior alertness.”   Trong giây phút này tôi muốn chiêm ngắm sự nên một đầy yêu thương, rất mật thiết giữa Chúa Cha và Chúa Giêsu, như bước vào một kinh nghiệm huyền bí.  Tôi để cho tình yêu nên một này trào tràn trong tôi, và tôi cũng được nên một với Chúa Cha và Chúa Giêsu.  Lưu ý, một kinh nghiệm huyền bí sẽ không dừng ở những gì bên ngoài, nhưng sẽ dần dần dẫn tôi đi vào vĩnh cửu với Thiên Chúa.     

Phạm Đức Hạnh, SJ